Bài dịch Topikku 45

 

119番に電話をかける

Gọi đện đến 119

急に病気になったり、大きな怪我をしたりた場合は、すぐ119番に電話をかけて、救急車を呼ばなければなりません。しかし、電話をしたのに、うまく話せなくて、時間を無駄にしてしまう場合があります。

Trong trường hợp bạn đột nhiên bị bệnh hay những vết thương lớn phải gọi điện ngay đến số 119 và xe cấp cứu

消防署で、こんな話を聞きした。「ある日、119番の電話がありました。女の人が「赤ちゃんが、赤ちゃんが」と言いながら泣いているんです。でも、赤ちゃんがどうしたのか、救急車はどこへ行けばいいのか、分かりません。「大丈夫ですから、落ち着いてください」と言って、やっと住所と名前を聞くことができましたが、救急車の出発が少し送れてしまいました。急に家族が倒れたり、怪我をしたりすると、大抵の人はびっくりして、ちゃんと話せなくるんですね。」こんなとき、どうすれば電話で必要なことをきちんと伝えることができるか、消防署の人に聞いてみました。

Ở văn phòng cứu hỏa, Tôi đã được nghe câu chuyện như sau: "Có một ngày, có cuộc gọi đến số 119. có mộ người phụ nữ vừa nói vừa khóc rằng: 'con tôi nó, con tôi nó ... '.  nhưng mà,chúng tôi không biết đứa trẻ bị làm sao hay xe cấp cứu phải đi đâu. Tôi nói 'không sao đâu, hãy bình tĩnh lại nào' cuối cùng tôi có thể hỏi được địa chỉ và tên của chị ấy nhưng tiếc là xe cấp cứu đã xuất phát chậm một chút!.  Khi người thân trong gia đình đột nhiên bị thương hầu hết mọi người đều hoảng loạn và không thể nói đúng tình trạng bệnh nhân.". Những lúc như vậy, tôi đã hỏi nhân viên phòng thường trực làm sao để có thể truyền đạt lại đầy đủ những điều cần thiết trên điện thoại

大切なことはつぎの四つです。

có 4 điều quan trọng sau:

1.まず、病気か火事か、言う。(病気の場合)は救急車、火事の場合は消防車)。

- trước hết hãy nói bị hỏa hoạn hay bị bênh. Trường hợp bị bệnh thì xe cấp cứu. Hỏa hoạn thì xe cứu hỏa.

2.名前と住所を言う。

- Nói tên địa chỉ.

3.病院へ運ぶ人は男の人か女の人か、言う。年齢も言う。

- nói người được mang đi viện là nam hay nữ, bao nhiêu tuổi.

4.様子を説明する。

- Giải thích qua tình hình

「電話のそばに、住所と名前、電話番号が書いてあるメモをはっておいてくだいさい。慌てていても、メモがあれば、それを読むことができます。気持ちも落ち着きます。」と、消防署の人はアドバイくれました。非常の場合に電話がかけられるように、準備しておきましょう。

Nhân viên phòng thường trực tư vấn rằng " ở gần điện thoại hãy ghi ra tờ giấy nhớ có số điện thoại, tên và địa chỉ.  Dù có hoảng loạn, nhưng nếu có ghi chú, bạn có thể đọc nó bạn sẽ thấy bình tĩnh hơn". Bạn hãy chuẩn bị trong những trường hợp khẩn cấp phải sử dụng điện thoại nhé.

 --------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

危ない!
Nguy hiểm kìa!
ある日、ミラーさんは道を渡っていました。その時、向こう側にいた日本人の友達が「危ない!」と叫びました。ミラーさんは何があぶないのか、よくわかりませんでしたが、止まりました。車がミラーさんの前をすごいピードで走って行きました。
Có một ngày, Anh Miller đang đi trên đường, lúc đó, một bạn người Nhật ở phía bên đường hét to rằng "Nguy hiểm kìa". anh Miller ngạc nhiên cái gì nguy hiểm và không hiểu cái gì đang diễn ra nhưng vẫn dừng lại. Có một chiếc ô tô vọt qua trước mặt anh với tốc độ rất nhanh.
次の日、ミラーさんは車を駐車場に止めようと思って、バッグしていました。隣に座っていた日本人の友達が、「ぶつかる!」と叫びました。びっくりしたミラーさんはどうしたらいいか、わかりませんでした。車は後ろの壁にぶつかってしまいました。
Ngày tiếp theo, Anh Miller đang muốn đậu xe vào bãi gửi xe. trong lúc lùi xe lại. Người bạn người nhật ngồi bên cạnh hét to lên "Va vào kìa!". Trong lúc giật mình anh Miller đã không biết nên làm gì. Chiếc xe đã đâm vào bức tường phía sau.
 ミラーさんはどうして友達が「止まれ!」とか「ブレーキを踏め!」とか、言わなかったのか、不思議たと思いました。
Anh Miller cảm thấy rất kì lạ tại sao bạn anh không nói rằng "dừng lại" hay "phanh xe lại".
それで、色々な場合に日本人が何と言うか、聞いてみました。
Chính vì thế trong những trường hợp khác nhau người nhật sẽ nói như thế nào. bạn hãy thử hỏi nhé!
Nội dung liên quan (8)